|
Máy Tính
Máy tính, cũng gọi là máy vi tính hay điện toán,
là những thiết bị hay hệ thống dùng để tính toán hay kiểm soát các hoạt
động mà có thể biểu diễn dưới dạng số hay quy luật lôgic.
Máy tính được lắp ghép bởi các thành phần có thể thực hiện các chức
năng đơn giản đă định nghĩa trước. Quá tŕnh tác động tương hỗ phức tạp
của các thành phần này tạo cho máy tính một khả năng xử lư thông tin.
Nếu được thiết lập chính xác (thông thường bởi các chương tŕnh máy
tính) máy tính có thể mô phỏng lại một số khía cạnh của một vấn đề hay
của một hệ thống. Trong trường hợp này khi được cung cấp một bộ dữ liệu
thích hợp nó có thể tự động giải quyết vấn đề hay dự đoán trước sự thay
đổi của hệ thống.
Khoa học nghiên cứu về lư thuyết, thiết kế và ứng dụng của máy tính
được gọi là khoa học máy tính, hay khoa học điện toán.
Từ "máy tính" (computers), đầu tiên, được dùng cho những người
tính toán số học, có hoặc không có sự trợ giúp của máy móc, nhưng hiện
nay nó có nghĩa là máy móc hoàn toàn. Đầu tiên máy tính chỉ giải các bài
toán số học, nhưng các máy tính hiện đại làm được nhiều hơn thế.
Các nguyên lư cơ bản
Máy tính có thể làm việc thông qua sự chuyển động của các bộ phận cơ
khí,
electron, photon,
hạt lượng tử hay các hiện tượng vật lư khác đă biết. Mặc dù máy tính
được xây dựng từ nhiều công nghệ khác nhau song gần như tất cả các máy
tính hiện nay là máy tính điện tử.
Máy tính có thể trực tiếp mô h́nh hóa các vấn đề cần được giải quyết,
trong khả năng của nó các vấn đề cần được giải quyết sẽ được mô phỏng
gần giống nhất với những hiện tượng vật lư đang khai thác. Ví dụ, ḍng
chuyển động của các điện
tử (electron) có thể được sử dụng để mô h́nh hóa sự chuyển
động của nước trong đập. Những chiếc
máy tính tương tự (analog computer) giống như thế đă rất phổ
biến trong thập niên 1960 nhưng
hiện nay c̣n rất ít.
Trong phần lớn các máy tính ngày nay, trước hết, mọi vấn đề sẽ được
chuyển thành các yếu tố toán học bằng cách diễn tả mọi thông tin liên
quan thành các số theo
hệ nhị phân (hệ thống đếm dựa trên các số 0 và 1 hay c̣n gọi là
hệ đếm cơ số 2). Sau đó, mọi tính toán trên các thông tin này được
tính toán bằng
đại số Bool (Boolean algebra).
Các mạch điện tử được sử dụng để miêu tả các phép tính Bool. V́ phần
lớn các phép tính toán học có thể chuyển thành các phép tính Bool nên
máy tính điện tử đủ nhanh để xử lư phần lớn các vấn đề toán học (và phần
lớn thông tin của vấn đề cần giải quyết đă được chuyển thành các vấn đề
toán học). Ư tưởng cơ bản này, được nhận biết và nghiên cứu bởi
Claude E. Shannon, người đă làm cho
máy tính kỹ thuật số (digital computer) hiện đại trở thành
hiện thực.
Máy tính không thể giải quyết tất cả mọi vấn đề của toán học.
Alan Turing đă sáng tạo ra
khoa học lư thuyết máy tính trong đó đề cập tới những vấn đề mà máy
tính có thể hay không thể giải quyết.
Khi máy tính kết thúc tính toán một vấn đề, kết quả của nó được hiển
thị cho người sử dụng thấy thông qua thiết bị xuất như: bóng đèn, màn
h́nh, máy in, ...
Những người mới sử dụng máy tính, đặc biệt là trẻ em, thường cảm thấy
khó hiểu về ư tưởng cơ bản là máy tính chỉ là một cái máy, nó không thể
"suy nghĩ" hay "hiểu" những ǵ nó hiển thị. Máy tính chỉ đơn giản thi
hành các t́m kiếm cơ khí trên các bảng màu và đường thẳng đă lập tŕnh
trước, rồi sau đó nó được chuyển đổi thành các mẫu tùy ư của ánh sáng
bởi thiết bị đầu ra. Chỉ có bộ năo của con người nhận thức được các mẫu
này tạo thành các chữ hay số và gắn ư nghĩa cho chúng. Trong quan điểm
của máy tính th́ mọi thứ mà nó "nhận thấy" (kể cả khi máy tính được coi
là tự nhận biết) chỉ là các hạt electron tương đương với các số 0 và 1.
Sự phát triển lũy thừa của
công nghệ máy tính
Các thiết bị tính toán tăng gấp đôi năng
lực (được định nghĩa là số phép tính thực hiện trong một giây cho mỗi
1.000 USD chi phí) sau mỗi 18 đến 24 tháng kể từ năm 1900. Gordon E.
Moore, người đồng sáng lập ra Intel, lần đầu tiên đă miêu tả tính chất
này của sự phát triển vào năm 1965. Cùng với việc tăng khả năng tính
toán trên một đơn vị chi phí th́ tốc độ của sự thu nhỏ kích thước cũng
tương tự. Những chiếc máy tính điện tử đầu tiên như ENIAC (ra đời năm
1946) là một thiết bị khổng lồ nặng hàng tấn, tiêu thụ nhiều điện năng,
chiếm một diện tích lớn, thực hiện được ít phép tính và đ̣i hỏi nhiều
người điều khiển để có thể hoạt động được. Chúng đắt đến mức chỉ có các
chính phủ hay các viện nghiên cứu lớn mới có đủ điều kiện để duy tŕ
hoạt động của chúng. Ngược lại, các máy tính ngày nay có nhiều sức mạnh
hơn, rẻ tiền hơn, có kích thước nhỏ hơn, tiêu thụ ít điện năng hơn và
phổ biến ở mọi nơi.
|